Đóng

10/12/2018

CHỢ NỔI NGÃ NĂM – ĐẶC SẮC VĂN HÓA TÂY NAM BỘ

Đời nào vui bằng đời thương hồ?
Xuống bể lên nguồn, gạo chợ nước sông…

Chợ nổi là hình thức họp chợ buôn bán đặc trưng và khá phổ biến của Tây Nam bộ trước đây do đặc điểm địa hình nhiều sông ngòi, kênh rạch. Hiện nay, giao thông đường thủy dần mất đi vai trò quan trọng của mình cho giao thông đường bộ, chợ nổi cũng vì vậy mà ngày càng thưa vắng khách thương hồ. Một số địa điểm chuyển sang phục vụ mục đích du lịch và dần mất đi bản sắc vốn có của chợ nổi. Chợ nổi Ngã Năm do đặc thù thuộc khu vực trung tâm của một thị xã khá xa trung tâm tỉnh, điều đó gây hạn chế cho việc phát triển du lịch nhưng bù lại nơi đây vẫn còn giữ lại nhiều nét đặc trưng của văn hóa buôn bán trên sông, khá thích hợp với những du khách thích tìm hiểu về văn hóa bản địa – mà ở đây là văn hóa sông nước miền Tây. Chợ nổi Ngã Năm được nhóm họp tại nơi 5 ngã sông (kênh rạch) giao nhau, gồm: Long Mỹ, Vĩnh Quới, Phụng Hiệp, Phước Long, Phú Lộc. Địa danh Ngã Năm cũng từ đây mà gọi thành tên.

Xuống xe buýt, chúng tôi đi bộ một đoạn ngắn băng qua Chợ Phường 1 (tức là Chợ Ngã Năm trên cạn) để đến bến sông. Nhiều xuồng, ghe của bà con làm nghề đưa đò đã chờ sẵn ở đó tự lúc nào. Đa phần bà con làm nghề đưa đò là người địa phương, có gia đình cũng đã 2-3 đời làm nghề này, nhưng cũng có người vì làm ăn thất bát, lại thấy nhu cầu sử dụng đò để đến chợ nổi ngày càng nhiều nên sắm xuồng ra nghề. Cô Trần Thị Ên làm nghề đưa đò bộc bạch: “Tôi làm nghề này cũng hơn chục năm rồi. Một chuyến chở khách mình lấy 30.000 đồng/ người. Nghề này cũng giống nghề xe ôm trên cạn vậy đó, thu nhập cũng “bữa đực, bữa cái” chú ơi!”. Chúng tôi đến chợ nổi vào khoảng lúc 5 giờ ngoài nhưng đoạn hợp lưu sông đã không còn tập trung nhiều ghe, xuồng. Đây là chợ đầu mối nông sản, trái cây nên dân thương hồ đến từ khoảng 1-2 giờ sáng. Khoảng 3-4 giờ mới là giờ tập trung đông đảo khách thương hồ nhất, người dân nơi đây cho biết có khi ghe, xuồng ken chặt từ chỗ hợp lưu đến hầu hết các dòng kênh. Đoàn xuồng đi sâu vào nhánh Long Mỹ mới thấy được quang cảnh họp chợ trên sông của bà con.

Đời nào vui bằng đời thương hồ?
Xuống bể lên nguồn, gạo chợ nước sông…

Câu ca dao trên diễn tả khá lạc quan về đời sống của dân thương hồ. Đó là sự tự do, phóng khoáng đượm chất Nam bộ của những con người lênh đênh sông nước như thuở tiền nhân “mang gươm đi mở cõi”…

Đoàn xuồng chúng tôi đi sâu vào nhánh Long Mỹ mới thấy được quang cảnh họp chợ trên sông của bà con. Bày hàng bán vào giờ này một phần là những khách thương hồ bán sỉ còn lại ít hàng nên cố bán cho hết, phần là những người bán lẻ. Nói là bán lẻ nhưng có lẽ là lẻ đối với dân buôn thôi vì những thứ hàng hóa cũng được bà con cho vào những túi nilon to chừng 20kg trở lên. Hiện nay, đa phần hàng hóa đều được bán theo cân lượng nhưng cũng còn một số thứ trái cây còn bán theo chục. Đơn vị chục của miền Tây không phải lúc nào cũng là 10, mỗi loại trái cây có số lượng khác nhau và ở mỗi địa phương cũng không giống nhau. Chúng tôi có khảo sát một vài khách thương hồ tại Chợ nổi Ngã Năm thì được biết ở đây 1 chục cam, bưởi thì đúng 10 trái nhưng chục dừa phải là 12 trái còn chục bắp thì lên đến 14. Văn hóa tính chục này có lẽ không đâu khác có ngoài Tây Nam bộ, nó cảm tính và phóng khoáng đúng như cái chất, cái tình của con người nơi đây. Một số người cho rằng cách tính chục này xuất phát từ lối buôn bán theo con nước của chính giới thương hồ mà lan sang cả những giới khác ở miền Tây. Chú Bảy – dân thương hồ gốc Cà Mau bộc bạch: “Nghe ông bà kể lại, hồi xưa, Cà Mau trồng nhiều khóm lắm, nhiều cánh đồng bạt ngàn luôn nên chủ rẫy cũng rất hào phóng. Một chục lúc nào cũng được cho thêm, có khi lên đến 24 trái. Thương hồ buôn bán theo con nước về đến tận Sài Gòn (nay là TP. Hồ Chí Minh), đi nhiều ngày, một số bị giập, bị hư nên càng đi xa 1 chục càng ít trái lại”. Câu chuyện nghe qua cũng rất có lý và phần nào giải thích được cách tính chục của bà con miền Tây nhưng có lẽ để có thể khẳng định về nguồn gốc ra đời của một nét văn hóa, còn cần nhiều hơn những nghiên cứu của những nhà văn hóa. Các thứ trái cây bán tính chục rồi cũng dần được chuyển qua cân, rồi có lẽ, một ngày nào đó, nét văn hóa này cũng sẽ không còn như việc chợ nổi ngày càng ít đi ở các địa phương Tây Nam bộ.

Trên những chiếc ghe, nhiều người đang bày hàng ra sàn ghe và treo hàng lên “cây bẹo”. Trên sông, đôi khi khoảng cách khá xa nên những tiếng rao hàng trở nên không hiệu quả. Thế là dân thương hồ nghĩ ra việc dùng cây bẹo là một thanh tre, gỗ có thể dựng đứng hoặc gác ngang để treo hàng hóa lên với quy tắc “bẹo gì bán nấy”. Có ghe bán nhiều mặt hàng thì cũng có thể bẹo các loại hàng hóa thành một dãy trên cây bẹo, lủng lẳng trên các cây bẹo có khi là trái cam, trái bưởi, bắp cải,… có khi lại là những thứ trái cây to như dưa hấu, bí đỏ,… trông thật vui mắt. Dân thương hồ hôm đó cũng được một phen lấy làm thú vị với đoàn khách mặc cùng màu “áo xanh tình nguyện”. Một vài khách thương hồ đang treo hàng lên cây bẹo cũng chú ý đến đoàn chúng tôi và réo lên hỏi: “Đoàn ở đâu xuống vậy?”. “Đoàn của thanh niên Sóc Trăng tìm hiểu chợ nổi chú ơi!” – Một thành viên trong đoàn nhanh nhảu đáp lời. Khách lạ mà nay như đã từng quen biết từ rất lâu, có lẽ vì với dân thương hồ, ai cũng là khách cả. Bản thân những người lênh đênh trên sóng nước đó, thân phận như lục bình trôi, rày đây mai đó, có người quê tận An Giang, Tiền Giang, có người ở mãi miệt Cà Mau. Mỗi ghe là một gia đình và có lẽ họ cũng mang ít nhiều văn hóa địa phương của mình lên ghe thế nhưng trên mặt nước này, mọi khoảng cách, mọi ranh giới về văn hóa đều đã được xóa nhòa như đặc tính cố hữu của con người Tây Nam bộ.

Tuy mặt nước không rộng lắm nhưng cũng có nhiều ghe tải trọng lớn đến buôn bán, khi đến gần, chúng trông như những con quái vật to lớn nếu so với những chiếc xuồng chở chừng 7-8 người mà chúng tôi đang sử dụng. Đưa ghe ghé sát vào một chiếc ghe cùng chiều đang đi khá chậm, cô lái đò của chúng tôi với tay lấy một trái bàng đã chuẩn bị sẵn trong giỏ để ném vào lưng một chú đang ngồi trên chiếc ghe đó. Giật mình, chú “nói liệu” (nói liệu bản chất là một phản xạ có ý thức do một hành động được lặp đi lặp lại nhiều lần gây nên, về lâu dài nó sẽ ám thị cho bộ não khi gặp kích thích tương tự thì sẽ thực hiện một hành động đã được ám thị từ trước) một tràng dài và gây ra không ít tiếng cười cho bà con xung quanh. Văn hóa của miền Tây sông nước, không chỉ hào sảng, phóng khoáng mà còn đầy ắp tiếng cười bởi những trò đùa như quên hẳn đi cả tuổi tác của con người nơi đây. Chiếc loa trên xe buýt của chúng tôi cũng được vác xuống xuồng. Ở nơi lênh đênh trên mặt nước đó, cô hướng dẫn viên du lịch cất giọng hò “chay” những câu đầu trong bài vọng cổ “Tình anh bán chiếu” của cố soạn giả Viễn Châu. Tiếng “Hò… ơi…” vừa cất lên thì không gian như miên man hơn hẳn và cả đoạn sông như dừng công việc để cùng nghe điệu hò. Ấy mới biết, người Nam bộ, mà nhất là những kẻ lênh đênh trên sóng nước yêu “vọng cổ” đến dường nào. Không chỉ bày bán các thứ nông phẩm, kể cả những thức ăn được chế biến sẵn cũng được bà con bày hàng bán trên ghe, dạo dọc đoạn thương hồ còn đang họp chợ, chúng tôi thấy có một vài ghe bán bún nước lèo – đặc sản của Sóc Trăng. Tấp vào bờ để dùng bữa sáng, tôi xin phép xuống một ghe bún nước lèo để chụp ảnh. Vì được biết trước buổi trưa sẽ về TP. Sóc Trăng dùng bún nước lèo nên không có thành viên đoàn nào chọn món này tại Chợ nổi Ngã Năm. Cô bán bún nước lèo than: “Dặn mình ghé đây bán mà không ai ăn bún hết! Thôi, không ăn “tui” đi chỗ khác bán”. Tiếng than có chút gì đó hờn dỗi nhưng cái dỗi cũng rất đáng yêu vì tôi biết họ cũng chẳng để bụng lâu những chuyện đó.

Đoàn chúng tôi trở lên xe buýt và bắt đầu chuyến hành trình về lại TP. Sóc Trăng và tham quan một vài điểm du lịch quá đỗi thân thương của chính mình. Và hình ảnh về một Chợ nổi Ngã Năm của hiện tại đã có một chỗ trong lòng chúng tôi như là một địa điểm du lịch xứng đáng để giới thiệu cho bạn bè gần xa. Nhưng nếu để làm du lịch, thiết nghĩ cần có thêm quy hoạch để buôn bán các mặt hàng lưu niệm hoặc chí ít cũng cần bán lẻ các mặt hàng nông sản để du khách mua sắm tiện lợi hơn.

Anh Thụy