Đóng

26/11/2018

Du lịch Sóc Trăng – Tại sao không?

Sóc Trăng, quê hương tôi vẫn còn là một địa danh khá mơ hồ với nhiều người ngoại tỉnh. Không ít lần khi đi xa, tôi giới thiệu mình là người Sóc Trăng thì lại được hỏi địa danh đó ở đâu.

Nhân dịp Lễ hội Óoc Om Bóc, tôi quyết định mời những người bạn phương xa của mình đến để có cơ hội gặp gỡ và giới thiệu về quê hương. Ừ thì phen này đến lượt tôi làm hướng dẫn viên du lịch vậy. Bài toán được đặt ra cho tôi là phải làm sao đưa các bạn đi được nhiều điểm du lịch chỉ trong một buổi chiều.

Nhà tôi gần đường Tôn Đức Thắng nên tôi quyết định sẽ đi dọc tuyến đường Tôn Đức Thắng bắt đầu từ chùa Đất Sét (Bửu Sơn tự), chùa Khleang (Khơ-leng), trường Taberd rồi qua bên kia kênh Maspéro để đến chùa Dơi (chùa Mahatup).

Điểm đến đầu tiên là chùa Đất Sét – nơi được UBND tỉnh công nhận Di tích Kiến trúc nghệ thuật vào năm 2010. Đây là một ngôi chùa tu tại gia của dòng họ Ngô (thuộc giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương) với hàng ngàn pho tượng được làm bằng đất sét thấm đượm màu sắc của các tín ngưỡng dân gian.

Bước qua cổng tam quan, chúng tôi đi theo một hành lang bên hông chùa rồi vào gian thờ tự bằng cửa bên. Chào đón chúng tôi là chú bạch tượng 6 ngà. Trong không gian khá khiêm tốn là hàng ngàn pho tượng đủ mọi tư thế của các vị thuộc Tam giáo (Nho – Phật – Đạo) và cả tín ngưỡng thờ Mẫu, bên cạnh đó còn có các linh vật như: thanh sư, bạch hổ, long mã, kỳ lân,… Tất cả thế giới quan huyền bí của dân gian Việt Nam như gói gọn vào không gian nhỏ hẹp đó. Sự bất ngờ và thán phục đến từ những người bạn khi tôi cho họ biết tất cả những pho tượng ở đây đều làm bằng đất sét bởi một người chưa từng được học qua bất kỳ lớp mỹ thuật nào cả.

Trong gần 40 năm, với tình yêu tôn giáo mãnh liệt, ông Ngô Kim Tòng đã tự tay nặn nên các tác phẩm đầy tính nghệ thuật dân gian đó. Những năm cuối đời, người “nghệ nhân dân gian” của chúng ta không nặn tượng mà chuyển sang đúc đèn cầy (nến). Trong nhiều tháng miệt mài, ông đã đúc 3 cặp đèn cầy lớn (mỗi cây nặng 200kg) và 1 cặp đèn cầy nhỏ (mỗi cây nặng 100kg). Cặp đèn cầy nhỏ được thắp lên từ ngày ông qua đời (18-7-1970) cho đến nay.

Cuối năm 2013, một tin vui lại đến với chùa Đất Sét khi được xác lập Kỷ lục Việt Nam về Tháp Đa Bảo và Bảo Tòa Liên Hoa bằng đất sét lớn nhất. Với tất cả sự độc đáo đó, chùa Đất Sét thật sự xứng đáng là điểm tham quan “đặc hữu” ở Sóc Trăng.

Rời chùa Đất Sét, chúng tôi đi theo đường Tôn Đức Thắng hướng về trung tâm thành phố để đến chùa Khleang – nơi gợi nhớ ký ức về địa danh cổ của vùng đất này. Sóc Trăng thật ra là cách đọc trại của từ Srok Khleang (nghĩa là làng Kho Bạc hoặc làng Vựa Lúa). Đây là một ngôi chùa cổ, tương truyền được xây dựng từ năm 1532, tuy nhiên kiến trúc chùa hiện nay được xây dựng mới vào năm 1918.

Cổng chùa được xây dựng theo kiến trúc Khmer với 3 ngọn tháp biểu tượng cho Tam bảo (Phật – Pháp – Tăng). Đây là lối kiến trúc được Phật giáo mượn từ kiến trúc Hindu giáo với 3 ngọn tháp biểu tượng 3 vị thần tối cao của họ (Brahma – Vishnu – Shiva). Hai bên được trang trí rắn thần Naga, bên dưới là hai tượng tiên nữ Kenma và các cột được trang trí bằng các họa tiết kỷ hà đậm nét Khmer. Khuôn viên chùa trồng nhiều cây thốt nốt – giống cây biểu tượng của văn hóa Khmer.

Gian chính điện chùa Khleang xây dựng trên nền tam cấp mà muốn bước lên phải qua các cổng nhỏ. Trên mái cổng được trang trí đồ án Riahu nuốt mặt trăng. Mái chính điện được xây tam cấp với các góc mái là đầu rồng Khmer và đỉnh là phần đuôi của chúng. Chúng tôi bước lên các bậc thềm để vào chính điện. Điều làm chúng tôi ngạc nhiên là gian thờ và tất cả cột trong chính điện được trang trí theo phong cách dân tộc Hoa. Những con rồng và cổng tam quan được vẽ trên cột với biển hiệu đề chữ Hán “Vũ môn”. Tiến vào sâu bên trong là bàn thờ với tượng Phật Thích Ca cao 6,8m (riêng thân tượng cao 2,7m) khắc họa Phật đang mặc trang phục lộng lẫy với nón hình tháp cao trên đầu và các tượng Phật Thích Ca nhỏ hơn xung quanh. Chúng tôi nhìn ngắm đường nét của pho tượng cổ như hút hồn vào đó. Đây là lần đầu tiên chúng tôi nhìn thấy đấng giác ngộ trong trang phục lộng lẫy như thế.

Sau này, khi tìm hiểu, tôi mới biết tượng tạc như vậy có ý nghĩa là khi Phật chưa đản sinh mà còn đang trong kiếp của một vị Phạm Thiên (Trời). Chúng tôi bước ra ngoài thì thấy bà con Khmer tụ tập ngày một đông đảo ở sala (một kiểu hội trường trong kiến trúc chùa Khmer). Sala chùa Khleang vẫn còn giữ được nét kiến trúc truyền thống với nhà sàn cao khoảng 2m được làm bằng gỗ. Chúng tôi may mắn đến đúng dịp lễ Dâng Y (Kathina) của đồng bào Khmer nơi đây.

Bên trong Sala, bà con mang đến các mâm lễ vật là cà sa, cây bông (cây hoa được làm bằng giấy) và vật dụng cần thiết để dâng lên các tu sĩ. Với lòng thành kính, họ dâng tặng các lễ vật và được các thầy tu đọc những lời kinh chúc tụng. Khuôn viên chùa cũng náo nhiệt không kém khi chúng tôi bước trở ra vì bà con đang tổ chức múa Sadăm mừng lễ. Sadăm là điệu múa trống truyền thống của đồng bào Khmer có tiết tấu nhanh và khá vui nhộn. Không khí trở nên vui vẻ hẳn lên với các nhân vật chằn và khỉ Hanuman trong điệu Sadăm. Với những nét độc đáo về kiến trúc, chùa Khleang đã được Bộ Văn hóa – Thông tin và Thể thao (nay là Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch) công nhận Di tích Kiến trúc, nghệ thuật cấp quốc gia vào năm 1990 và cũng là di tích đầu tiên của tỉnh được công nhận ở cấp quốc gia.

Cách chùa Khleang một khoảng ngắn (đi bộ mất chừng 3 phút) là đến trường Taberd cũng nằm trên đường Tôn Đức Thắng. Tháng 9-1945, trường được vinh dự là nơi tiếp đón đoàn tù Côn Đảo trở về. Hiện nay, trường được chia tách thành nhiều khu đất riêng biệt của các trường: THPT iShcool Sóc Trăng, THCS Phường 6, Mẫu giáo 1/6 và khu nhà có diện tích khoảng 200m2 được dùng làm Nhà trưng bày Khu di tích lịch sử Đón đoàn tù chính trị Côn Đảo về Sóc Trăng.

Bước vào khuôn viên Nhà trưng bày có các cây cổ thụ rợp bóng mát, sự huyên náo của đường Tôn Đức Thắng như đã ở rất xa. Nhà trưng bày được chia thành 2 gian: gian chính dùng để trưng bày các hình ảnh ở nhà tù Côn Đảo và hình ảnh đón tiếp đoàn tù và sinh hoạt của họ tại trường vào năm 1945 cùng các hiện vật được những người tù sử dụng khi đó; gian nhỏ hơn trưng bày các hình ảnh về bác Tôn Đức Thắng (một trong những người tù trở về năm xưa) cùng bức tượng bán thân của ông. Với ý nghĩa lịch sử quan trọng của mình, năm 1992, trường Taberd được Bộ Văn hóa – Thông tin và Thể thao công nhận là Di tích Lịch sử cách mạng cấp quốc gia.

Điểm cuối cùng chúng tôi đến trong chuyến tham quan là chùa Dơi – nơi được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận Di tích Kiến trúc, nghệ thuật cấp quốc gia vào năm 1999. Men theo đường Lê Hồng Phong về hướng Mỹ Xuyên đến đầu đường Văn Ngọc Chính, chúng tôi đã thấy cổng chào của chùa Mahatup được xây dựng rất hiện đại nhưng vẫn mô phỏng kiến trúc Khmer truyền thống.

Qua cổng chào, chúng tôi đi sâu vào đường Văn Ngọc Chính, cổng chùa ở phía bên trái. Bên trong là một khuôn viên với nhiều cây sao, cây dầu cao vút nhưng những cây ở sát cổng chùa thì dơi không đến đậu. Chúng tôi vào chính điện trước rồi mới vào khu vườn phía sau chùa. Chính điện chùa Dơi cũng được trang hoàng khá sặc sỡ và với những môtip Khmer quen thuộc. Phần đầu hồi ở mái nhà được trang trí hình ảnh quen thuộc Riahu nuốt mặt trăng.

Đặc biệt, khoảng tường lớn phía sau chính điện vẽ cảnh Phật thuyết pháp cho năm anh em Kiều Trần Như dưới gốc bồ đề. Bên trong, vẫn là bàn thờ với tượng Phật Thích Ca đủ kích cỡ. Các bức vách được vẽ về hoạt cảnh cuộc đời của Ngài. Rời chính điện, chúng tôi bước sâu vào khuôn viên chùa. Nơi đây, ngoài các tháp thờ Phật và tháp cốt, chúng tôi còn được thấy một ngôi miếu nhỏ. Nhân vật được thờ trong miếu chính là Bà Đen. Sự giao thoa và dung hòa trong tính cách người Sóc Trăng còn gì có thể cụ thể hơn thế khi ngay trong khuôn viên chùa Khmer là miếu của tín ngưỡng thờ Mẫu?

Trong không gian trang nghiêm của những hàng cây, gần miếu Bà Đen và tháp Phật là một hồ nước nhỏ càng làm cho nơi đây thêm phần tĩnh lặng. Bước theo con đường đal nhỏ vào sâu bên trong, những đàn dơi quạ vẫn còn lủng lẳng treo mình trên những cành cây cao. Đó thật sự là một cảnh tượng hiếm gặp đối với những người bạn phương xa của tôi.

Trong khuôn viên chùa còn có những chuồng heo được dùng để nuôi chứa heo năm móng. Người Khmer tin rằng những con heo có năm móng (thay vì bốn móng) là do con người đầu thai chuyển kiếp. Vì vậy, họ không dám ăn thịt mà giao nhà chùa nuôi cho đến khi heo chết già. Sau đó, họ lại đắp mộ, dựng bia và vẽ hình heo lên bia mộ và “hương khói” như con người.

Trở về nhà sau chuyến tham quan, mấy anh bạn của tôi vẫn còn rất nhiều điều tò mò về những bí ẩn bao trùm lên các ngôi chùa của Sóc Trăng. Nhưng có một điều làm tôi cảm thấy rất vui đó là tất cả đều trầm trồ bảo rằng Sóc Trăng có nhiều địa điểm du lịch “độc dị” và bày tỏ sự tiếc nuối tại sao bấy lâu không ai nghĩ đến việc du lịch tâm linh ở vùng đất hội tụ văn hóa này. Thật vậy, hiếm nơi nào có cả 3 dân tộc có nền văn hóa phát triển (Kinh, Hoa, Khmer) trên cùng một địa bàn mà cả 3 dân tộc đều có những đóng góp to lớn (và gần như ngang bằng nhau) trong sự phát triển văn hóa địa phương như Sóc Trăng. Có thể nói, cả 3 dân tộc anh em cộng cư lâu đời trên mảnh đất này chính là chủ thể của văn hóa Sóc Trăng không lẫn vào đâu được so với các tỉnh, thành bạn.

Anh Thụy